Câu hỏi: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu bên dưới:
Đầu lòng hai ả tố nga,
Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sáo, mặn mà,
So bề tài, sắc, lại là phần hơn.
Làn thu thủy, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên Bạc mệnh, lại càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
(Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)
- Câu 1 (0,5 điểm): Xác định thể thơ của văn bản trên.
- Câu 2 (0,5 điểm): Tìm những tính từ miêu tả vẻ đẹp của nhân vật “Thúy Vân” trong trích đoạn trên.
- Câu 3 (1,0 điểm): Xác định điển cố trong câu thơ sau. Cho biết ý nghĩa của điển cố trong câu: “Một hai nghiêng nước nghiêng thành, / Sắc đành đòi một, tài đành họa hai.”
- Câu 4 (1,0 điểm): Nhận xét cách miêu tả vẻ đẹp nhân vật Thúy Vân và Thúy Kiều trong đoạn thơ trên.
- Câu 5 (1,0 điểm): Qua đoạn thơ trên, em hãy bày tỏ quan điểm của em về vẻ đẹp của người phụ nữ trong xã hội hiện nay.
- Phần viết (2,0 điểm): Viết đoạn văn nghị luận cảm nhận về vẻ đẹp nhan sắc của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn thơ trên.
Đáp án: Câu 1: thể thơ lục bát. Câu 2: các tính từ “trang trọng”, “đầy đặn”, “nở nang”, “đoan trang”. Câu 3: điển cố “nghiêng nước nghiêng thành” – ca ngợi sắc đẹp phi thường của Thúy Kiều trong đoạn thơ Đầu lòng hai ả tố nga. Các câu còn lại và đoạn văn tham khảo được giải chi tiết bên dưới.

Giải thích chi tiết từng câu
Câu 1 – Thể thơ
Văn bản được viết bằng thể thơ lục bát, thể thơ truyền thống của dân tộc. Bằng chứng nằm ngay ở cấu trúc dòng thơ: mỗi dòng sáu chữ xen kẽ một dòng tám chữ (“Đầu lòng hai ả tố nga” – 6 chữ; “Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân” – 8 chữ). Trong thể lục bát, tiếng thứ sáu của câu lục hiệp vần với tiếng thứ sáu của câu bát, tạo nhịp điệu liền mạch, dễ thuộc, dễ nhớ – đặc điểm phù hợp với truyện thơ kể chuyện dài như Truyện Kiều.
Câu 2 – Các tính từ miêu tả Thúy Vân
Các tính từ miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân trong đoạn trích gồm: trang trọng, đầy đặn, nở nang, đoan trang. Cụ thể, “Vân xem trang trọng khác vời” xác lập thái độ đĩnh đạc, uy nghi; “Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang” tả khuôn mặt tròn trịa, mắt mũi rõ ràng, phúc hậu; “Hoa cười ngoc thốt đoan trang” khẳng định nét đoan chính, kín đào trong nụ cười, lời nói. Bốn tính từ này đều gợi vẻ đẹp cân đối, đầy đặn, an bình – không cầu kỳ nhưng rất vững chãi.
Câu 3 – Điển cố “nghiêng nước nghiêng thành”
Điển cố trong hai câu thơ là cụm “nghiêng nước nghiêng thành“. Điển cố này có nguồn gốc từ sách Hán thư, câu ca của Lý Diên niên tả美人 Lý phu nhân: nhìn lại một lần thì làm nghiêng thành, nhìn lại lần nữa thì làm nghiêng nước (“nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc”). Nguyễn Du mượn điển cố này để khẳng định: sắc đẹp của Thúy Kiều thuộc dạng tuyệt đỉnh, đủ sức làm xao xuyến, rung động cả thành trì và đất nước. Hai câu thơ còn sắp xếp thứ bậc rõ ràng: “Sắc đành đòi một, tài đành họa hai” – nhan sắc của Kiều đứng đầu, tài năng chỉ xếp sau nhan sắc mà thôi, và ngay cả khi “họa hai” thì tài ấy vẫn khó ai sánh kịp.
Câu 4 – Nhận xét cách miêu tả hai nhân vật
Đoạn thơ miêu tả Thúy Vân và Thúy Kiều theo lối đối lập nhưng hài hòa. Về Thúy Vân, tác giả dùng những từ ngữ nhẹ nhàng, thanh thoát: khuôn trăng, đầy đặn, nở nang, đoan trang – vẻ đẹp phúc hậu, chắc khỏe, kín đáo. Về Thúy Kiều, từ ngữ mang sắc thái rực rỡ, gay gắt hơn: sắc sảo, mặn mà, làn thu thủy, nét xuân sơn, và đặc biệt là hệ thống từ ghen tuông của tạo vật – “hoa ghen”, “liễu hờn” – để tôn vẻ đẹp vượt trội của nàng. Cách miêu tả Vân trước, Kiều sau còn là bút pháp đòn bẩy: vẻ đẹp của người em được dựng lên để làm nền, từ đó Thúy Kiều hiện lên “phần hơn” cả về tài lẫn sắc. Hai chị em “mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười”, tạo nên bức chân dung song sinh đẹp mà không trùng lặp.
Câu 5 – Quan điểm về vẻ đẹp người phụ nữ hiện nay
Đoạn thơ ngợi ca vẻ đẹp toàn diện – cả sắc lẫn tài – của người phụ nữ. Trong xã hội hiện nay, quan niệm ấy cần được hiểu rộng hơn: vẻ đẹp không dừng ở hình thức bên ngoài mà còn ở trí tuệ, nhân cách, sự tự tin và độc lập. Người phụ nữ hiện đại tỏa sáng khi hội tụ cả “sắc” và “tài”, biết khẳng định bản thân trong học tập, công việc và đời sống; nhan sắc có thểutz tàn theo thời gian nhưng tài năng và phẩm chất là giá trị bền vững.
Đoạn văn tham khảo: cảm nhận vẻ đẹp Thúy Kiều (Phần viết)
Nhan sắc tuyệt trần
Nguyễn Du khắc họa Thúy Kiều bằng những hình ảnh so sánh tinh tế và đầy sức gợi. “Làn thu thủy, nét xuân sơn” gợi vẻ trong sáng, tươi tắn như làn nước mùa thu và nét núi mùa xuân. Đẹp hơn, thiên nhiên còn trở thành kẻ đứng ra đo và thua: “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” – hoa phải ghen vì kém thắm, liễu phải hờn vì kém xanh, chứng tỏ nhan sắc Kiều vượt trội đến mức tạo vật cũng cam lòng khuất phục.
Tài năng xuất chúng
Không chỉ đẹp, Kiều còn tài năng vẹn toàn. Nàng “Pha nghề thi họa, đủ mùi ca ngâm”, “Cung thương làu bậc ngũ âm” – am hiểu sâu sắc thơ, họa, ca, nhạc. Tài đàn là tài riêng: “Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”, và chính tay nàng soạn “Một thiên Bạc mệnh, lại càng não nhân” – khúc nhạc Buồn khiến lòng người thổn thức. Tài năng ấy là thiên phú (“Thông minh vốn sẵn tính trời”) lại được tôi luyện thành nghề.
Sự kết hợp hài hòa
Song hành giữa nhan sắc và tài năng tạo nên vẻ đẹp toàn diện của Thúy Kiều – người con gái đủ sức “nghiêng nước nghiêng thành”. Nàng không chỉ là một người đẹp mà còn là một nghệ sĩ tài hoa, hiện thân của hình tượng người phụ nữ tài sắc vẹn toàn trong văn học Việt Nam, để lại ấn tượng sâu đậm cho bao thế hệ độc giả.
Hệ thống kiến thức liên quan
Đoạn trích này kiểm tra bốn nhóm kiến thức – kỹ năng cơ bản của môn Ngữ văn:
- Thể loại: nhận diện thể thơ lục bát qua cấu trúc dòng 6 – 8 chữ; đây là kiến thức nền cần nắm chắc trước khi làm các câu đọc hiểu thơ truyện.
- Từ ngữ: kỹ năng định vị và liệt kê tính từ miêu tả nhân vật, luyện thói quen đọc kỹ từng dòng thơ để không bỏ sót từ (“trọng”, “đặn”, “nang”, “trang”).
- Điển cố: yếu tố quen thuộc của văn học cổ điển – mượn truyện tích xưa để hàm súc hóa ý nghĩa. Trong đoạn trích dày đặc điển cố: “nghiêng nước nghiêng thành”, “Bạc mệnh”, “tuần cập kê”, “tường đông”; cần biết xuất xứ để giải thích chính xác ý nghĩa.
- Nghệ thuật miêu tả nhân vật: so sánh cách dựng chân dung Vân và Kiều để thấy bút pháp đối lập – đòn bẩy, từ đó đánh giá được sự tinh tế của Nguyễn Du.
- Nghị luận văn học: liên hệ thực tế, bày tỏ quan điểm cá nhân và viết đoạn văn cảm nhận – kỹ năng vận dụng cao, đòi hỏi vừa phân tích vừa bình giá.
Mẹo ghi nhớ và nhận diện nhanh
Để nhận thể lục bát trong vài giây, đếm chữ của hai dòng đầu: 6 – 8 là lục bát. Để phân biệt hai nhân vật, hãy bám vào “chất” của từ ngữ: tính từ tả Thúy Vân hướng đến sự đầy đặn, kín đáo (tròn, đặn, trang), còn từ ngữ tả Thúy Kiều hướng đến sự sắc nét, có “ăn điểm” hơn (sắc sảo, ghen, thua, hơn). Gặp câu hỏi về điển cố, chú ý các cụm bốn chữ có âm hưởng Hán – Việt quen thuộc như “nghiêng nước nghiêng thành”, “một vrij hệ hồng quần” hay “tường đông ong bướm”: đó thường là dấu hiệu của truyện tích mượn từ thư tịch cũ. Cuối cùng, khi thấy tạo vật “thua – nhường – ghen – hờn” trước con người, hãy chắc chắn rằng tác giả đang dùng bút pháp ước lệ để tôn người đẹp lên bậc tuyệt thế.

Bài viết liên quan: