Mạng lưới sông ngòi nước ta dày đặc do đâu? Đáp án chi tiết

Câu hỏi: Cho thông tin sau: Mạng lưới sông ngòi dày đặc, phân bố rộng khắp trên đất liền. Nước ta có khoảng 2360 con sông có chiều dài trên 10 km. Tổng lượng nước của sông ngòi nước ta khoảng 839 tỉ m³/năm. Tổng lượng phù sa của các hệ thống sông khoảng 200 triệu tấn/năm. Các nhận định sau đúng hay sai?

  • a) Sông ngòi nước ta có hàm lượng phù sa lớn là kết quả của quá trình phong hóa mạnh mẽ ở các khu vực địa hình đồi núi.
  • b) Lượng mưa lớn và nguồn nước từ ngoài lãnh thổ làm cho sông ngòi của nước ta có độ đục cao.
  • c) Chế độ nước sông thất thường chủ yếu do tác động của chế độ mưa, địa hình, lớp phủ thực vật, con người.
  • d) Địa hình đồi núi nước ta bị chia cắt mạnh là nguyên nhân chủ yếu làm cho nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc.

Đáp án đúng là a, c, d. Ba nhận định này gắn đúng nguyên nhân với từng đặc điểm của mạng lưới sông ngòi nước ta dày đặc: phong hóa mạnh ở đồi núi tạo phù sa lớn, chế độ mưa – địa hình – thực vật – con người chi phối chế độ nước, địa hình chia cắt mạnh làm sông ngòi dày đặc. Nhận định b sai vì độ đục cao của sông chủ yếu do lượng phù sa lớn, không phải do nguồn nước từ ngoài lãnh thổ.

Đề bài trắc nghiệm Địa lí về đặc điểm sông ngòi Việt Nam: mạng lưới dày đặc, lượng nước 839 tỉ m³/năm và lượng phù sa 200 triệu tấn/năm

Vì sao các nhận định a, c, d đúng

Nhận định a đúng vì phong hóa mạnh mẽ ở vùng đồi núi chính là nguồn gốc của lượng phù sa lớn. Khí hậu nóng ẩm, mùa khô nóng làm đá trên sườn đồi núi bị phong hóa, vỡ vụn thành đất đá bở rời; sang mùa mưa, vật liệu này bị rửa trôi xuống sông và được vận chuyển ra đồng bằng, ra biển. Con số khoảng 200 triệu tấn/năm trong đề bài là minh chứng cho hàm lượng phù sa lớn ấy.

Nhận định c đúng vì chế độ nước sông nước ta biến đổi thất thường theo mùa do chịu tác động đồng thời của nhiều nhân tố. Chế độ mưa phân hóa mùa rõ rệt khiến mùa mưa sông dâng cao, mùa khô sông cạn kiệt; địa hình dốc khiến nước thoát nhanh; lớp phủ thực vật điều tiết, giữ nước; con người làm thay đổi dòng chảy qua chặt phá rừng và xây hồ chứa.

Nhận định d đúng vì địa hình là nhân tố chủ yếu tạo nên độ dày của mạng lưới sông. Đồi núi chiếm khoảng 3/4 diện tích lãnh thổ và bị chia cắt mạnh thành nhiều khối núi, thung lũng, nên gần như mỗi thung lũng, mỗi sườn dốc đều phát triển dòng chảy riêng. Kết quả là nước ta có khoảng 2360 con sông dài trên 10 km, phân bố rộng khắp đất liền đúng như dữ kiện đề bài.

Vì sao nhận định b sai

Đây là nhận định dễ nhầm nhất vì trộn lẫn hai đặc điểm khác nhau của sông ngòi. Lượng mưa lớn và nguồn nước từ ngoài lãnh thổ ảnh hưởng đến độ nhiều nước: chúng làm tổng lượng nước đạt khoảng 839 tỉ m³/năm. Còn độ đục cao là đặc tính gắn với hàm lượng phù sa: nước sông chở khoảng 200 triệu tấn đất đá mịn mỗi năm nên có màu vàng đỏ đặc trưng, điển hình như sông Hồng. Nguồn nước từ ngoài lãnh thổ chảy vào lãnh thổ nước ta chỉ làm tăng lượng nước, không làm tăng độ đục. Vì vậy, gán nguyên nhân “độ đục cao” cho lượng mưa lớn và nguồn nước ngoài lãnh thổ là sai bản chất.

Hệ thống kiến thức liên quan

Từ các dữ kiện trong đề bài, có thể hệ thống bốn đặc điểm nổi bật của sông ngòi Việt Nam cùng nguyên nhân tương ứng:

  • Mạng lưới sông ngòi nước ta dày đặc, khoảng 2360 con sông dài trên 10 km — do đồi núi chiếm phần lớn diện tích và bị chia cắt mạnh.
  • Lượng nước lớn, khoảng 839 tỉ m³/năm — do lượng mưa phong phú, cộng thêm dòng chảy từ phần lưu vực nằm ngoài lãnh thổ chảy vào.
  • Lượng phù sa lớn, khoảng 200 triệu tấn/năm — do phong hóa mạnh mẽ ở đồi núi kết hợp rửa trôi vào mùa mưa.
  • Chế độ nước thất thường theo mùa — do chế độ mưa phân hóa mùa rõ rệt, cùng tác động của địa hình, lớp phủ thực vật và hoạt động của con người.

Khi gặp dạng đề này, mỗi đặc điểm của sông ngòi cần được soi chiếu với đúng nhóm nhân tố của nó: địa hình gắn với mạng lưới sông, phong hóa gắn với phù sa, chế độ mưa gắn với chế độ nước.

Mẹo ghi nhớ dạng đề nhận định đúng – sai

Học theo cặp “đặc điểm – nguyên nhân” sẽ không bị nhầm: dày đặc đi với địa hình chia cắt mạnh; nhiều nước đi với mưa lớn và nguồn nước ngoài lãnh thổ; nhiều phù sa, độ đục cao đi với phong hóa mạnh ở đồi núi; chế độ nước thất thường đi với mưa theo mùa cộng tác động của địa hình, thực vật và con người. Khi làm bài, gạch chân nhân tố được nêu trong từng nhận định rồi đối chiếu với các cặp trên; nhận định nào gán đặc điểm này cho nhóm nguyên nhân khác — như nhận định b gán độ đục cho nguồn nước ngoài lãnh thổ — lập tức sai.